Những biến động dân số Việt Nam
Dân số và phát triển kinh tế là hai yếu tố lưỡng tương. Dân số ảnh hưởng đến sự phú cường hay sự suy thoái của quốc gia và bởi lẽ thế giới hôm nay đại đồng, sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khu vực ảnh hưởng dây chuyền đến sự phát triển thế giới.
Jack A.Goldstone, giáo sư kinh tế và chính trị của George Mason School of Public Policy, trong một biên khảo tựa là «The new population bomb : the four megatrends that will change the world » đăng trong tạp chí Foreign Affairs, số tháng giêng năm 2010 đã chứng minh vận mệnh của các quốc gia và thế giới trong nửa thế kỷ sắp tới là do quả bom dân số qui định .
Đối với Việt Nam, biến cố chính trị tháng tư năm 1975 tiếp theo sự suy sụp kinh tế và gia tăng dân số đã phát sinh nhiều biến động dân số quan trọng.
Trước tiên, sự cưỡng chiếm miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975 và chánh sách thù hận tù đày của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với những người không cùng chiến tuyến đã mở đầu cho một cuộc di cư vĩ đại khiến hơn 2 triệu người Việt không chấp nhận chế độ đã lần lượt bỏ xứ ra đi tỵ nạn trên khắp các vùng đất tự do trên thế giới. Sau đó, những thất bại trong các chánh sách kinh tế khiến người dân thêm nghèo khổ đã đẩy hơn nửa triệu người di cư kinh tế đến các quốc gia lân bang và Đông Âu qua chánh sách xuất khẩu lao động của chính phủ. Ngoài ra, sự cưỡng bức 5 triệu thị dân đi về các vùng kinh tế mới tiếp theo chính sách «làm ngơ» để người dân từ nông thôn di cư ra thành thị để kiếm sống khiến 64 tỉnh và thành phố trên toàn quốc đã và đang trải qua những khó khăn kinh tế và xã hội.
Trong bài viết nầy, chúng tôi sẽ lược xét qua hiện trạng và viễn tượng các vấn đề dân số Việt Nam, vấn đề di dân trong nước và xuất khẩu lao động cũng như người Việt tỵ nạn tại một số quốc gia trên thế giới.
Khi xét đến hiện trạng, chúng tôi có đôi khi đề cập đến diễn biến của sự kiện để làm sáng tỏ thêm vấn đề. Ngoài ra, về việc sử dụng những số thống kê, mặc dù chúng tôi cố gắng so sánh những nguồn dữ liệu từ trong nước và ngoài nước để rút ra những thống kê khả tín, nhưng những dị biệt chắc chắn không tránh khỏi, bởi lẽ các cơ quan chính quyền Cộng Sản thường «uốn nắn» các con số thống kê theo mục tiêu sử dụng. Do đó, có khi và có thể độc giả nhìn những thống kê cung cấp bởi các cơ quan Cộng Sản qua độ lớn hơn là độ chính xác.
Phần 1. Dân số Việt Nam
Theo Thống kê Việt Nam và Ngân Hàng Thế Giới, dân số VN vào năm 2008 là 86,21 triệu người . So với vùng Đông Nam Á, VN được xếp vào hạng 3 (sau Indonésia và Phi Luật Tân) và so với thế giới, VN đứng hạng 13 trong bảng xếp hạng các quốc gia đông dân.
1.1 - Gia tăng dân số
Những thống kê về dân số VN được thực hiện tương đối có phương pháp ở miền Nam sau 1954, và trên toàn quốc từ sau năm 1977, khi có sự trợ giúp kỹ thuật và tài chánh của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA=United Nations Population Fund).
Trong thời quân chủ, dân số thường được ước lượng dựa vào các sổ bộ đinh điền, nhưng phần lớn các tài liệu nầy đã thất lạc trong các biến cố lịch sử năm 1885 và 1945. Philippe Langlet, một nhà sử học chuyên về VN (chồng của Quách Thanh Tâm cũng là giáo sư Sử học trường Đại học Văn Khoa Saigon), đã phân tích các tài liệu sử học VN và Pháp trong văn khố để đưa ra các thống kê phỏng định về biến chuyển dân số VN trong hai thế kỷ qua mà chúng tôi tóm lược như sau.
Theo Phan Thúc Trực trong Quốc sử di biên thì vào năm 1803, đưới đời Gia Long, sổ đinh có 468 068 tên, và theo Đại Nam Nhất Thống Chí, ghi chép tổng số dân đinh tại 28 tỉnh, thì năm 1819 có 643 706 tên và năm 1865 có 878 000 tên. Bởi lẽ mỗi tên người là một chủ gia đình và nếu nhân số nầy cho hệ số 6 hay 8 là số người trong mỗi gia đình thì có thể ước định là dân số VN vào năm 1865 khoảng từ 5 đến 7 triệu dân.
Langlet còn dẫn chứng thêm một tài liệu khác để chứng minh là dân số VN có thể nhiều hơn cách tính nầy.
Năm 1868, sau khi hoàn tất cuộc xâm chiếm Nam Kỳ, Pháp đã kiểm kê dân số Nam Kỳ và ghi trong Annuaire de la Cochinchine, 1868 con số là 1 121441 người, trong khiĐại Nam Nhất Thống Chí vài năm trước đó (năm 1865) ghi 111781 tên trong sổ đinh. Từ con số của Pháp trong Annuaire gấp 11 lần con số của Đại Nam Nhất Thống Chí, Langlet đi đến kết luận là nếu dùng hệ số 11 nhân cho 878 000 chủ gia đình theo thống kê của Đại Nam Nhất Thống Chí, dân số của VN vào giữa thế kỷ XIX độ 10 triệu nguời, một con số hợp lý dựa trên tài liệu các loại.
Sau đó, năm 1921, chính phủ Pháp lần đầu tiên tổ chức cuộc kiểm tra dân số trên toàn quốc, nhưng kết quả thu được cũng rất mong manh vì chỉ căn cứ vào những con số cung cấp bởi các chính quyền làng xã. Những cuộc kiểm tra từ năm 1926 đến năm 1943 tuy chặt chẽ hơn, nhưng những con số vẫn là ước định vì sai suất rất cao.Theo phân tích của Langlet, dân số VN vào năm 1936 khoảng 19 triệu, năm 1943 khoảng 22 triệu, năm 1954, trước hiệp định Genève là 24 triệu. (Gubry. Population et développement, p.49, 66)
Nghiên cứu về sinh suất và tử suất để biết tỷ lệ gia tăng dân số hằng năm cũng gặp những khó khăn tương tự, nên những số thống kê trước 1975 cũng chỉ là phỏng định dựa trên sự phân tích và tổng hợp các nguồn liệu.
Về tỷ lệ gia tăng dân số hiện nay, với chánh sách kế hoạch hóa gia đình áp dụng tại miền Bắc từ năm 1961 và trên toàn quốc từ 1988 (gia đình 1 hay 2 con), tỷ lệ gia tăng dân số tuy có khuynh hướng giảm dần, nhưng VN vẫn gia tăng mỗi năm khoảng 1 triệu người. Năm 2008, tỷ lệ gia tăng dân số là 1,2% so với 1,4% năm 2000 và 2,4% năm 1989.
Căn cứ vào phân tích và các tài liệu tham khảo, các dữ kiện chính yếu về biến chuyển dân số VN có thể được tóm tắt trong bảng dưới đây :
Bảng 1 : Dữ kiện chính yều về biến chuyển dân số Việt Nam
Năm | Dân số (triệu) | Sinh suất % | Tử suất % | Tỷ lệ gia tăng |
1865 | 10 | |||
1901 | 13 | |||
1936 | 19 | 4,8 | 2,6 | 2,2 |
1943 | 22 | 4,1 | 1,7 | 2,4 |
1954 | 24 | |||
1976 | 49 | 3,9 | 0,7 | 3,2 |
1989 | 64,4 | 3 | 0,6 | 2,4 |
2000 | 76,5 | 2 | 0,6 | 1,4 |
2008 | 86,2 | 1,7 | 0,5 | 1,2 |
Nguồn : Patrick Gubry. Population et développement au VN
p. 49, 66, 225
1.2 - Phân phối dân số theo vùng (thống kê dân số 2008)
Hai khu vực tập trung đông đảo dân số là vùng Đồng Bằng sông Hồng (19,6 triệu dân) và Đồng Bằng sông Cửu Long (17,7 triệu dân) chiếm 43 % dân số nhưng hai vùng nầy chỉ có 19% đất đai trên toàn quốc. Đặc biệt vùng Đông Nam Bộ là vùng phát triển kỹ nghệ, chỉ với 7% diện tích đất đai nhưng phải dung chứa 14,7% dân số (12,8 triệu) mà khuynh hướng cứ gia tăng mỗi năm bởi dân nhập cư đến tìm việc làm, vấn đề đô thị hóa thật nghiêm trọng. Trung bình, mỗi năm dân số trong vùng nầy tăng thêm 3%, trong đó tỉnh Bình Dương tăng đến 7,3% và Saigon (Tp HCM: 3,5%).
Vùng dân số thưa thớt là vùng Trung Du và miền núi phía Bắc với 30% diện tích nhưng chỉ có 13% dân số và đặc biệt vùng Tây Nguyên với 5 tỉnh chì có 5 triệu dân.
Những thành phố và tỉnh có đông dân cư nhất (thống kê 2008) là:
- Tp HCM: 7,12 triệu
- Thành phố Hà Nội : 6,44 triệu
- Thanh Hóa : 3,4 triệu
- Nghệ An : 2,9 triệu
- Đồng Nai : 2,48 triệu
Tỉnh có dân số thấp nhất là Bắc Kạn : 294 660 người.
Với một diện tích nhỏ hẹp (331 000 km2), mật độ dân số rất cao tại các vùng Đồng bằng sông Hồng (933 người /km2) và Đồng Bằng sông Cửu Long (436 người), nhất là tại các vùng đô thị và kỹ nghệ, VN phải nhanh chóng tìm một chánh sách dân số thích nghi để giải quyết trong ngắn hạn vấn đề quân bình dân số khu vực và trong dài hạn vấn đề nhân mãn. Năm 2025, dân số VN ước lượng sẽ vượt qua 100 triệu.
1.3 - Phân phối dân số theo thành thị và nông thôn
Dân cư VN chính yếu vẫn tập trung đông đảo ở nông thôn (72%) so với 28% dân sống ở thành thị (năm 2008). Sự phân phối dân số nầy rất bất lợi cho sự phát triển kinh tế bởi lẽ, một đàng, cơ cấu công kỹ nghệ ở nông thôn chưa phát triển và sinh hoạt chính yếu của người dân vẫn là nông nghiệp mà sản phẩm nông nghiệp bị mất giá hay không cạnh tranh được với nông phẩm các quốc gia cơ giới hóa, và đàng khác, chánh sách bỏ rơi nông thôn của chánh quyền Cộng Sản đã khiến cho đa số các vùng nông thôn, đặc biệt vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long vẫn còn đắm chìm trong chậm tiến và nghèo khó sau hơn 20 năm áp dụng chính sách kinh tế gọi là «đổi mới». Chính sách đô thị hóa hỗn loạn, thiếu nghiên cứu và áp dụng bừa bãi dựa trên quyền lợi của phe nhóm đã và đang gia tăng thêm bất bình đẳng đô thị và nông thôn. Trong vòng 10 năm, từ cuộc Điều tra dân số năm 1999 đến cuộc Điều tra dân số năm 2008, Thống kê VN đã cho biết là tỷ lệ gia tăng dân số trung bình mỗi năm ở thành phố lên đến 3,4% trong khi ở nông thôn chỉ có 0,4%. Miền Đông Nam Bộ là vùng có mức độ đô thị hóa cao nhất với 3 trung tâm đô thị là Tp HCM, Đồng Nai, và Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau miền Đông Nam Bộ, vùng Đồng Bằng Sông Hồng cũng là khu phát triển đô thị mạnh với 3 trung tâm Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội
(Nguồn : Điều tra biến động dân số 2008)
1.4 - Phân phối dân số theo nhóm tuổi
Bởi lẽ số sinh đã sụt giảm nhiều trong khi tuổi thọ trung bình càng cao, dân số VN cũng đang có khuynh hướng lão hóa với tỷ lệ dân số trẻ càng lúc càng giảm và số người già ngày càng tăng. Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi giảm từ 39% năm 1989, xuống còn 33% năm 1999 và tiếp tục giảm xuống còn 25% năm 2008, trong khi người trên 65 tuổi tăng từ 4,7% , lên 5,8% và 7,5% trong cùng thời gian ấy.
Bảng 2. Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi vả trên 65 tuổi (%)
1989 | 1999 | 2008 | |
Dưới 15 tuổi | 39,2 | 33,1 | 25 |
Từ 65 tuổi trở lên | 4,7 | 5,8 | 7,5 |
Nguồn : Điều tra biến động dân số năm 2008, p.2
Bảng 3. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi (2008)
Tuổi | 0-14 | 15-19 | 20 -24 | 25-39 | 40 - 59 | 60-64 | 65 + |
% | 25 | 10 | 8 | 23 | 24 | 2,5 | 7,5 |
Nguồn : như trên
Cơ cấu dân số trên cho thấy lớp tuổi từ 20 đến 59 tuổi là dân số ở tuổi lao động tại VN hiện nay rất cao (chiếm 55%), đó là một lợi thế cho nền kinh tế nhưng đồng thời cũng là áp lực lớn với chánh phủ phải cung ứng việc làm. Tình trạng thất nghiệp thật trầm trọng trong lứa tuổi nầy đặc biệt với lao động phụ nữ. Thống kê chính thức cho biết có 4,4% thất nghiệp, chưa kể những người làm việc bán thời gian vì thiếu công việc (5,1%). Trầm trọng hơn là tình trạng thất nghiệp ở nông thôn cao gấp 3 lần ở thành phố, và 38% người thất nghiệp là người có học, đã tốt nghiệp trung học. Đó là nguyên nhân của những tệ trạng xã hội tại các thành phố lớn, và mất quân bình kinh tế gây ra bởi hiện tượng di cư trong nước để tìm việc làm.(Nguồn : Niên giám thống kê 2008)
Cơ cấu dân số trên còn liên quan đến yếu tố chính trị. Người Cộng Sản luôn tự hào về quá khứ vinh quang của họ đã đánh bại được thực dân Pháp và «Mỹ Ngụy», nhưng những dấu tích vàng son nầy lần lần phai nhòa trong ký ức người Việt. Với những người dân lớp trẻ sinh ra vào năm 1975 và những năm sau đó thì đến nay thành phần nầy đã 35 tuổi và nếu phải kể thêm những đứa trẻ khoảng 5 tuổi vào năm 1975, đến nay đã 40 tuổi là thế hệ người Việt chẳng biết gì về chiến tranh VN. Số người nầy hiện nay đã chiếm đến 66% dân số, là thế hệ những người Việt không biết «Mỹ Ngụy» mà cũng không biết những «đỉnh cao chói lọi» chiến thắng «Mỹ Ngụy» của Cộng Sản. Cùng một lý luận tương tự với lớp trẻ sinh ra sau năm 1986 là năm Cộng Sản bắt đầu chánh sách đổi mới, thì đến nay những người nầy cũng đã hơn 20 tuổi. Như vậy, trên đất nước VN hiện nay có hơn phân nửa dân số chưa biết thế nào là kinh tế «xếp hàng cả ngày» sau tháng tư đen năm 1975. Họ không chứng kiến và không có kỷ niệm nào về chiến tranh trong đó Cộng Sản huyễn hoặc những thành tích, do đó lớp người trẻ tuổi và trung niên nầy không phải là thành phần trung kiên với Cộng Sản mặc dù họ bị tuyên truyền nhồi nhét những giáo điều và oán hận «Mỹ Ngụy» từ 35 năm nay. Đó là một sức mạnh đáng kể để hi vọng lật đổ chế độ bạo tàn nầy nếu khát vọng tìm tự do và no ấm của họ được huy động.
Cơ cấu dân số trên còn cho thấy dân số VN hiện nay đang trên đường lão hóa. Theo luật pháp VN hiện hành, tuổi về hưu là 60 tuổi, người 60 tuổi được xem là người cao tuổi. Năm 2008, VN có 10% người từ 60 tuổi trở lên, và theo Liên Hiệp Quốc, với tỷ lệ 10% nầy, dân số VN vừa sát với dân số lão hóa và nhịp lão hóa gia tăng lũy tiến trong thập niên sắp đến. Tình trạng lão hóa nầy là một đe dọa cho kinh tế và an sinh của VN. Hiện nay, trong số 8,4 triệu người trên 60 tuổi thì có 6,2 triệu người sống ở nông thôn, chiếm tỷ lệ đến 74%. Tình trạng người cao tuổi ở nông thôn thực khốn khổ, nghèo đói. Chỉ trừ khoảng 15% người già có tiền lương hưu trí tượng trưng (cán bộ, bộ đội CS) số còn lại phải sống bằng sức lao động của mình hay nhờ con cháu giúp đỡ. Nhưng con cháu cũng nghèo xác xơ, vì lợi tức trung bình hàng tháng của một người nông dân, theo thống kê 2008 là 506 ngàn đồng =30 mỹ kim (ở thành phố là 1 triệu đồng =60 mỹ kim) và nếu căn cứ vào ngưỡng nghèo của Liên Hiệp Quốc qui định là 1,25 mỹ kim mỗi ngày, thì 23% dân số VN, tức đa số dân ở nông thôn sống dưới ngưỡng nghèo (UNESCO. Statistiques 2007).
Tuy nhiên, nhằm mục đích giảm bớt tỷ lệ người nghèo để khỏi phải tài trợ theo các chương trình phụ cấp xã hội, và mặc dù có sự khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc, chánh phủ vẫn ấn định ngưỡng nghèo năm 2009 rất thấp : người nghèo là người có lợi tức hàng tháng 300 000 đồng =18 mỹ kim ở nông thôn và 390 000 đồng = 24 mỹ kim ở thành phố. Và theo Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội, với ngưỡng nghèo nầy, «cả nước sẽ tăng lên 3 triệu hộ » (tuyên bố của Ngô Trường Thi, Cục Phó Bộ Lao Động)
Nếu tính chung số người dưới 14 tuổi (25%) và trên 60 tuổi (10%) thì thành phần không làm việc tức không có lợi tức gọi là thành phần lệ thuộc chiếm 35% . Như vậy, 65% người tuổi lao động phải nuôi 35 % người lệ thuộc, nghĩa là cứ hai người làm việc để nuôi một người, đời sống người trẻ và người già VN hôm nay và ngày mai vô cùng đen tối. Từ cơ cấu tuổi, và tổ chức xã hội như trên, mô hình kinh tế gia đình VN chẳng khác gì Trung Quốc.
Đó là mô hình 2, 2, 4 tức 2 vợ chồng phải nuôi 2 đứa con và cha mẹ vợ và cha mẹ chồng (4). Nếu ông bà nội, bà ngoại còn sống thì đứa con nầy lại càng thêm còng lưng.
Thử tưởng tượng với lợi tức trung bình từ 506 000 đồng đến 300 000 một tháng (giá tiền một tô phở là 30 000 đồng) mà một người hay hai vợ chồng phải nuôi bấy nhiêu người trong gia đình thì dân Việt Nam hôm nay thực sự sống trong nghèo đói và viễn tượng thoát nghèo chỉ là mộng mơ dưới một chế độ đảng trị độc tài, bất tài và tham nhũng từ trên xuống dưới.
Phần 2. Di dân Việt Nam
Từ năm 1975 đến nay, chánh quyền Cộng Sản đã có hai chánh sách di dân nội địa là cưỡng bách di dân đến các vùng kinh tế mới từ năm 1976 đến 1998 và di dân tự do từ năm 1986, khi bắt đầu chánh sách đổi mới. Ngoài ra, để giải tỏa nạn thất nghiệp trầm trọng mà những cuộc di dân trong nước không giải quyết được, chánh quyền Cộng Sản chủ trương xuất cảng lao động vừa để có ngoại tệ, vừa dùng lực lượng lao động nầy làm tai mắt cho chánh phủ ở hải ngoại.
2.1. Di dân trong nước
2.1.1 - Cưỡng bách di dân đi vùng kinh tế mới
Sau khi chiếm được miền Nam, chánh quyền Cộng Sản cưỡng bách di dân một cách qui mô trên toàn quốc. Mục đích của chánh sách là phân phối các lực lượng lao động trong nước, đưa người dân từ các vùng đông dân đến các vùng thưa dân, khẩn hoang đất chưa canh tác. Ngoài mục đích kinh tế, việc di dân đến các vùng kinh tế mới còn có mục tiêu chính trị là đưa thị dân ở Saigon và các thành phố lớn, vốn là thành phần thân thuộc với chế độ VNCH chống đối chế độ mới, đi đến các vùng hoang vu vừa để khẩn đất, vừa để hành hạ và kiểm soát. Đó là phương pháp Pol Pot đã áp dụng ở đất Miên.
Những biện pháp để cưỡng bức di dân thông thường là thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo và nhu yếu phẩm, không cho trẻ con nhập học trường công, công an khủng bố tinh thần thường xuyên. Người di dân bị đối xử như tù tội, những vùng kinh tế mới là một loại goulag.
Mặc dù kế hoạch đã bắt đầu áp dụng từ 1976, nhưng mãi đến năm 1980, Tố Hữu mới ban hành «Quyết định Chánh sách xây dựng các vùng kinh tế mới » ấn định một số «quyền lợi» của người di dân như sau :
- Cấp vé xe từ nhà ở đến vùng kinh tế mới, mỗi gia đình (danh từ CS gọi là hộ) được mang theo từ 500 đến 800 kg hành lý, trợ cấp tiền ăn dọc đường 1 đồng mỗi ngày (không đủ để ăn một gói xôi nhỏ)
- Cấp cho 2 công cụ sản xuất (thực tế cuốc cùn, nếu là tiền thì bị cán bộ ăn chận bớt)
- Trợ cấp từ 700 đồng đến 900 đồng để làm nhà ở (tưởng tượng cất nhà trên đất úng thủy, vật liệu xây cất không có)
- Trợ cấp 100 đồng tối đa để đào giếng, 100 đồng để mua ghe thuyền để đi lại trên sông rạch , nếu vùng kinh tế mới ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Nếu bị ốm đau không lao động được thì được trợ cấp 1 đồng/ngày. Thuốc phòng bịnh và chửa bịnh theo tiêu chuẩn 50 xu /ngày. Và khi chết được trợ cấp 150 đồng cho chi phí mai táng...
Về phương thức canh tác có hai phần, một phẩn tư hữu và một phần hợp tác xã
- Phần tư hữu : mỗi gia đình được phát 500m2 để sản xuất tự túc trồng trọt theo ý muốn sau khi phải làm việc cho hợp tác xã 8 giờ mỗi ngày. Chính phủ giúp đỡ trong 6 tháng đầu, sau đó phải tự lo liệu.
- Phần hợp tác xã: người di dân khai hoang đất đai, xây dựng các hạ tầng cơ sở, sản xuất theo sự phân công của hợp tác xã. Người lao động chính được mua giá chính thức mỗi tháng 18kg gạo, người lao động phụ 16kg, người ăn theo 9kg.
Lợi tức của hợp tác xã được phân chia như sau: 30 % trả thuế, 25% góp cho chính phủ, 15% trả lương cho cán bộ quản lý, 30% còn lại chia cho các xã viên tính theo số điểm.
Mặc dù những quyền lợi của người cưỡng bách di dân chẳng có gì, nhưng việc đặt kế hoạch và quản lý giao cho chính quyền địa phương, do đó hiện tượng phép vua thua lệ làng và báo cáo láo khiến người di dân là một thứ nô lệ lao động thời cận đại. Nhiều gia đình phải tìm đủ mọi cách để bỏ trốn trở về nguyên quán hay sống chui rúc dưới gầm cầu xó chợ, đó là thời kỳ đen tối nhất của người dân miền Nam sau 1975 khiến nhiều gia đình tán gia bại sản.
Bảng 4 . Tổng kết số dân di cư trong các kế hoạch ngủ niên về Chánh sách Vùng kinh tế mới
Thời kỳ | Chỉ tiêu | Thực hiện | Di dân trung bình mỗi năm |
1976 - 1980 | 4 triệu | 1,5 triệu | 304 120 |
1981 - 1985 | 1 triệu | 1,3 triệu | 251 460 |
1986 - 1990 | 1,6 triệu | 1,1 triệu | 228 520 |
1991 - 1995 | 1 triệu | 0,9 triệu | 180 400 |
1996 - 2000 | 1 triệu | 0,2 triệu | 105 350 |
Tổng số | 8,6 triệu | 5 triệu | 239 700 |
Nguồn : Patrick Gubry. Population et développement, p. 201
Trong vòng 25 năm, từ 1976 đến 2000 có 5 triệu người di dân theo chính sách cưỡng bách đi vùng kinh tế mới, trung bình mỗi năm có 239 700 người.
Trong 15 năm đầu, số người di cư rất cao, nhưng từ năm 1991, số di dân đến các vùng kinh tế mới sụt giảm bởi có hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị trong đó có một phần dân số từ các vùng kinh tế mới nầy. Ngoài ra, kể từ năm 1986, khi các vùng kinh tế mới đã thành hình, chánh sách bớt khắc nghiệt, những người di dân tuy nằm trong kế hoạch, nhưng mang bản chất ít nhiều tự nguyện, đó là loại di dân từ vùng nông thôn nầy sang vùng nông thôn khác.
Tuy chánh sách Vùng Kinh tế mới đã khai thác được 1 triệu mẫu đất, đa số ở vùng Tây Nguyên để trồng các loại cây kỹ nghệ, nhưng chánh sách di dân nầy phải trả một giá rất đắc về môi sinh là gây ra nạn phá rừng và hỗn loạn xã hội vì những thị dân ở miền Nam bị cưỡng bách di cư phải mất nhà, mất tài sản, gia tăng thêm lớp người nghèo khổ trong thành phố.
2.1.2. Di dân nông thôn – thành phố
Cho đến năm 1990, việc di dân vô các trung tâm thành phố bị ngăn cấm, nhưng vẫn có một số người lén lút từ nông thôn, từ các vùng kinh tế mới tìm mọi cách để di cư vô thành phố để tìm việc làm và cải thiện mức sống.
Tình trạng thất nghiệp bán thời (thiếu việc làm) ở nông thôn là triền miên, 33 triệu người đến tuổi lao động ở nông thôn chỉ có việc làm trong 4/5 thời gian lao động. Theo cuộc Điều tra di cư năm 2004, lý do quan trọng nhất của di dân nông thôn-thành thị là động lực kinh tế (68,6%) , kế đó là vấn đề gia đình (14,9%) và một số nhỏ lên thành phố để học chữ và học nghề (4,5%).
Tp HCM và Hà Nội là 2 nơi thu hút nhiều nhất dân di cư từ nông thôn. Theo Viện Nghiên Cứu Phát Triển Tp HCM thì : ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Tp HCM là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước. Theo niên giám thống kê 2001 của Tp HCM, thành phố đóng góp 20% vào tổng số GDP của cả nước và GDP bình quân đầu người của thành phố lên đến 1 460USD, so với mức bình quân của cả nước là 410 USD
(Đô thị hóa và chánh sách cải cách)
Di cư nội địa nông thôn – thành phố theo 3 dòng chính như sau:
- Di cư từ Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung, Miền núi phía Bắc, và miền Đồng Bằng sông Hồng đến miền Đông Nam Bộ (Tp HCM, Biên Hòa, Bình Dương)
- Di cư từ Miền núi phía Bắc xuống Đồng Bằng sông Hồng
- Di cư từ Duyên hải miền Trung, Miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng đi Tây Nguyên.
Trước áp lực của nhu cầu nhân công kỹ nghệ và giải quyết nạn thất nghiệp ở nông thôn, kể từ năm 1990, chính phủ hủy bỏ chánh sách ngăn cấm người dân di cư nội địa, nhưng lại để cho các địa phương tạo nên các «rào cản» gây khó khăn cho người nhập cư.
Bruce Campbelle, đại diện Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc tại VN đã khuyến cáo chính phủ VN ngày 5/10/ 2009 tại Hà Nội nhân dịp công bố Báo cáo Phát Triển Con Người năm 2009 như sau : « Người di cư là động lực chính yếu cho sự phát triển kinh tế xã hội của VN, nhưng những đóng góp nầy không được chính phủ công nhận đầy đủ và có các biện pháp thích nghi để giúp đỡ người di dân giảm thiểu các tổn hại. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, người di cư đã đóng góp đến 30% GDP của thành phố »
Những tổn hại mà người di dân từ nông thôn ra thành phố bao gồm nhiều lãnh vực.
- Trước hết là vấn đề hộ khẩu. Tuy hộ khẩu không còn sử dụng để mua lương thực như lúc CS mới cầm quyền, chánh phủ vẫn duy trì chế độ nầy để kiểm soát dân chúng ở địa phương . Người thường trú có hộ khẩu mới được hưởng các dịch vụ công ích hay các quyền lợi cơ bản của mọi người dân. Một số địa phương không chấp nhận con những người di cư được học ở các trường công lập, hay phải đóng học phí và các chi phí linh tinh. Người di cư nghèo phải cho con học ở các «lớp học tình thương » miễn phí, nhưng chỉ có 3giờ mỗi ngày và 3 ngày mỗi tuần. Trẻ con bỏ học bị lôi cuốn theo các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút. Người không hộ khẩu cũng không được hưởng những quyền lợi về an sinh, y tế miễn phí.
- Sự phân biệt giữa người dân địa phương và người di dân tổn hại đến điều kiện sinh sống và công việc làm. 45% người di cư gặp khó khăn về chỗ ở và những điều kiện sống tối thiểu như điện, nước.
Theo cuộc điều tra dân cư do Thống Kê VN với sự tài trợ của Quỹ Dân Số Liên Hiệp Quốc thực hiện lần đầu tiên trong nước vào năm 2004 thì tình trạng sống đơn độc của người di cư trong những điều kiện nhà ở thiếu tiện nghi đã đem lại cho người di cư các tổn hại về sinh lý, tâm lý, tình cảm, khả năng vận động, khả năng tri thức. Riêng về uống rượu và hút thuốc nhiều hơn trước khi di cư là hiện tượng phổ biến (61% dân di cư hút thuốc lá và 80% uống rượu).
Cũng theo cuộc điều tra nầy thì tuy 90% người di cư có việc làm, từ công việc lao động phổ thông (50%) đến kinh doanh và thủ công nghệ (27%) và công việc chỉ huy, chuyên môn (5%), nhưng mức lương của người di cư luôn thấp hơn người địa phương. Đó là chánh sách đối xử phân biệt bất công cần phải cải thiện.
- Tuy lợi tức có tăng thêm so với lúc trước khi di cư, nhưng người lao động chân tay vẫn tiếp tục nghèo ở thành phố, sống ở ven đô hay các khu nhà ổ chuột bởi giá sinh hoạt ở thành phố cao hơn so với thôn quê. Di cư từ nông thôn ra thành phố như vậy đã vừa di cư chất xám, vừa di cư cả lớp dân nghèo từ nông thôn ra thành phố.
- Người di cư nghèo vì nhu cầu cấp bách của môi trường sống mới phải đi vay tiền lời cao, có khi hơn 50% mỗi tháng. Không am tường luật pháp lại bị bọn chủ cho vay phần lớn liên hệ với chánh quyền, người di cư nghèo không có lối thoát.
Di dân từ nông thôn lên thành phố, mặc dù gặp những bất trắc và khó khăn về phía nơi đi lẫn nơi đến, về phía người nhập cư lẫn người địa phương nhưng di dân nầy vẫn luôn là một biến động dân số tiếp diễn và gia tăng mà chính phủ trung ương không thể nào ngăn chận được. Chính phủ phải nhận lấy trách nhiệm để cùng với các địa phương tìm mọi biện pháp giúp đỡ người di cư như những công dân bình đẳng tại thành thị cũng như cải thiện gấp rút các cơ cấu kinh tế ở nông thôn một cách thông minh tùy theo đặc thù của mỗi địa phương để vừa giảm bớt vận tốc di cư, vừa san bằng phân cách nông thôn và thành thị. Đó là lời kết luận của nhóm chuyên viên Việt Pháp trong tài liệu nghiên cứu Les chemins vers la ville của Patrick Gubry et al., p.286.
Di dân nội địa như vậy không phải là một giải pháp hoàn hảo. Di dân không phải chỉ mang lại thiệt thòi cho người ra đi mà còn cho người ở lại. Những gia đình có thân nhân di cư, nếu có cơ may nhận được tiền của người di cư gởi về để có đời sống vật chất khả quan hơn , nhưng phải chịu những tác động tâm lý vì xa lìa người thân, nhất là con cái thiếu vắng sự giáo dục của cha mẹ. Đối với người di dân, nếu có cải thiện mức sống, giảm bớt phân cách giàu nghèo cho một số người có học, có nghề, nhưng di dân cũng làm thất thoát đi chất xám ở nông thôn, kềm giữ nông thôn trong chậm tiến và nghèo đói, và trầm trọng hơn, đưa một số thành phố như lớn như Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẳng phải đối phó với vấn đề đô thị hóa.
2.1.3 - Vấn đề đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh
Tp Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng cộng diện tích là 2100 km2, có 7,1 triệu dân, mật độ dân số trung bình là 3400 người/km2, nhưng tại khu nội thành lên đến 11 265 người/km2 trong khi ở khu ngoại thành chỉ có 670 người /km2. Đó là con số chính thức không kể những người nhập cư không có thẻ di trú và du khách. Theo Ngành Công An có khoảng 500 000 khách vãng lai qua đêm và một con số tương tự khách vãng lai không qua đêm, dân số thực sự lên đến 8 triệu người.
Theo đà gia tăng dân số nầy, năm 2020, Tp Hồ Chí Minh sẽ trở thành một siêu đô thị với 10 triệu dân.
Một cách tổng quát, Tp HCM được chia ra 3 khu vực :
- Khu vực nội thành (inner core) : là phần lớn thành phố Saigon trước 1975 gồm 8 quận 1,3,4,5,6,10,11 và Phú Nhuận, được xem như trung tâm thành phố, được sử dụng như khu hành chánh, kinh doanh thương mại và sinh hoạt văn hóa.
- Khu vực nội thành mới (inner fringe) là khu vực ven đô của Saigon cũ gồm 5 quận là quận 8, Bình Thạnh, Tân Phú, Tân Bình, Gò Vấp phát triển từ 1975 đến 1995, có diện tích 100 km2, phát triển không đồng đều, rất nhiều tệ trạng xây cất bất hợp pháp, hạ tầng cơ sở (cống , rảnh, đường sá) thô sơ thường hay bị lụt lội.
- Khu ngoại thành (suburban) và ven đô là khu vực mới phát triển sau 1995 khi có chánh sách đổi mới gồm 6 quận là quận 8, 2,7,9, Thủ Đức, Bình Chánh và vùng ngoại ô mới như huyện Hốc Môn, Nhà Bè.
Với tốc độ tăng gia dân số quá nhanh và dân nhập cư, Tp HCM đã và đang gặpnhững khó khăn trầm trọng về hạ tầng cơ sở, nhà ở, môi trường và quản lý đô thị.
- Về hạ tầng cơ sở : các cống rảnh, hệ thống dẫn nước và thoát nước trong thời Pháp thuộc chỉ dự trù cho nửa triệu dân, đến thời VNCH có xây cất thêm nhưng cũng chỉ dự trù cho một dân số 3 triệu. Với gia tăng dân số và phát triển nhà ở, xây cất cao ốc, cơ xưởng kỹ nghệ quá tải, 85% khu ngập ngập lụt thường xuyên tập trung ở một diện tích 150km2 ở khu nội thành. Các đường sá chật hẹp không đủ cho một lượng 340 000 xe hơi và 3,5 triệu xe gắn máy của người dân chưa kể xe đạp và các loại chuyên chở khác. TpHCM chỉ có 14% con đường để cho xe bus lớn lưu hành mà thành phố chưa trang bị các loại xe bus nhỏ (như ở Thái Lan, Phi Luật Tân...) để di chuyển trên các đường nhỏ, do đó di chuyển công cộng chỉ cung ứng 6% nhu cầu di chuyển của người dân. Đó là lý do chính yếu của sự tắt nghẻn giao thông, chưa kể chuyện sử dụng trái phép lề đường, và trình độ dân trí của người dân. TP Hồ Chí Minh là thành phố có nạn kẹt xe nhiều nhất ở Đông Nam Á.
- Về ô nhiểm môi trường : Nước thải của người dân, kể cả bịnh viện, cơ quan y tế, các cơ sở kỹ nghệ chảy thẳng ra sông rạch và nước dơ từ sông rạch nầy lại được người dân sử dụng . Ngoài ra rác (nói chung chất thải rắn) cũng là nguồn ô nhiểm tai hại cho sức khỏe và thẩm mỹ của thành phố.
Một báo cáo của Viện Nghiên Cứu phát triển TpHCM ghi : « Rác thải của các hộ gia đình thu gom trong túi nylon hay giỏ rác và giữ tại nhà 2-3 ngày...Mỗi năm thành phố thải ra 1,4 triệu tấn rác thải rắn (khoảng 3500 tấn một ngày) với tốc độ bình quân tăng mỗi năm 20%. Các bãi rác không có đủ năng lực tiếp nhận toàn bộ khối lượng...Bãi rác thải trước đây ở Tân Thạnh (Hốc Môn) sát với vùng ven đô đã đầy, nay chuyển lên Tây Bắc Củ Chi và đang dự trù phát triển thêm bãi rác ở Long An...
Một khi không khí, nước và đất bị ô nhiểm nghiêm trọng và không gian xanh biến mất, con người không thể tồn tại mạnh khỏe và hoạt động có hiệu quả. Xa hơn nữa, môi trường xấu sẽ tác động đến giá trị các tài sản cố định và các nhà đầu tư sẽ ra đi». (Nguyễn Đăng Sơn. Phát triển bền vững vùng ven đô TPHCM /Viện Nghiên Cứu phát triển TPHCM, 8/2005).
Bộ mặt thành phố cũng dị thường bởi những «khẩu trang» và «mũ bảo hiểm» như dòng thác lủ trên các nẻo đường. Tiếng động xe lên đến 110 db, và khí thải C02 và S02 cao hơn gấp 3 lần số lượng qui định (Gubry. Population et développement, p.277).
- Vấn đề quản lý đô thị : Tuy Tp HCM có một Viện nghiên cứu phát triển TpHCMmà nơi đó nhiều tiến sĩ, giáo sư lỗi lạc VN và ngoại quốc thường hội thảo, đưa kiến nghị, dự án, nhưng quyết định là do các ủy viên đảng cao cấp, thỏa hiệp với các phe nhóm tư bản và tham nhũng nên những quan điểm tiến bộ về đô thị hóa, nhất là khu nội thành ít khi được áp dụng .
Thông thường, khi một thành phố đã quá tải thì các nhà đô thị học thường trải dân ra các thành phố vệ tinh để giải tỏa khu dân đông như trường hợp Thượng Hải đã lập thêm Phố Đông, Kuala Lampur lập Mid-Valley, và từ 1970 Séoul đã buộc các tòa nhà cao hơn 10 tầng phải chuyển ra ngoại thành cách trung tâm 30km. Trái lại, tại Tp HCM, chỉ trong 3 năm từ 1995 đến 1997, chánh quyền CS đã cho phép 63 dự án xây cất cao ốc trong khu nội thành vì quyền lợi phe nhóm, vì thiên kiến là cao ốc tại trung tâm thành phố làm tăng thêm uy tín và sức mạnh nền kinh tế quốc gia. Nhưng những cao ốc mà chủ nhân là tư bản ngoại quốc che dấu một thực trạng nghèo đói của người dân. «Nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon . Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt bao năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ...» (Thanh Quang. Thư từ Saigon)
Và ngay cả những kế họach gia CS ưu tư với thời thế cũng lớn tiếng chỉ trích
« người lãnh đạo không được đào tạo bài bản về quản lý đô thị nên dẫn tới những sai lầm. Nếu ngay từ những năm 90, chúng ta đã xây dựng một thành phố hoàn toàn mới, có thể nằm ở Củ Chi, Nhơn Trạch thì chắc chắn tình hình đã tốt hơn nhiều, không phải tiến hành quá nhiều các biện pháp kỹ thuật tốn kém nhưng không hiệu quả như chặt đường, mở tiểu đảo, phân luồng giao thông...Số tiền đổ vào mở đường chống ngập lụt trong thời gian qua có thể xây dựng một thành phố mới...»(Nguyễn Minh Hòa. Giải pháp giao thông TPHCM chỉ là đối phó. www.tin247.com ngày 27/11/2007)
2.2 - Di dân ra ngoại quốc : xuất khẩu lao động
Ngoài việc di dân nội địa, chánh phủ còn chủ trương xuất khẩu lao động như một biện pháp kinh tế và chính trị. Kinh tế vì vừa giảm tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn mà di dân ra thành phố không giải quyết được, vừa tăng ngoại tệ do người lao động xuất khẩu gởi về và tiếp thu, tuy vẫn còn ở mức độ hạn chế, trình độ kỹ thuật của các nước ngoài. Chính trị vì những người lao động gởi đi là những người tay mắt của chế độ, góp phần trong việc tuyên truyền và thu nhặt tin tức. Cộng Sản tự hào là Việt kiều có mặt ở trên 100 quốc gia và lãnh thỗ là nhờ những lao động xuất khẩu nầy.
2.2.1 Người Việt tại Nga và Đông Âu
Chánh sách xuất khẩu lao động được áp dụng từ năm 1980 khi chánh phủ VN muốn giải tỏa nạn thất nghiệp trầm trọng và dùng nhân công để trả nợ cho các quốc gia anh em khối Cộng Sản đã giúp VN trong thời chiến tranh và các quốc gia thân hữu như Irak, Arabie Séoudite, Koweit, Qatar.
Trong một cuộc phỏng vấn của Báo Lao Động ngày 18/1/1990, Tổng Trưởng Bộ Lao Động đã tuyên bố là số người lao động xuất khẩu đã lên tới 250 000 người trong đó có 240 000 thuộc khối Cộng Sản ( Nga :81 000, Đông Đức : 60 000, Tiệp Khắc : 55 000, Bulgarie: 24 000 ...) và Irak :10 000. Tiền lương của nhân công được chia làm ba : một đóng cho nước chủ, một gởi về cho gia đình và một phát cho công nhân . Các công việc phần lớn là công việc người địa phương từ chối không làm : đổ rác, thợ mỏ, phu khuân vác, phu làm cầu đường, ống dầu ở Sibérie. (dịch từ : Lâm Thanh Liêm. Mutation progressive de la société vietnamienne).
Nhưng không bao lâu sau đó, các chế độ Cộng Sản đã lần lượt bị sụp đổ, các quốc gia chủ hủy bỏ hợp đồng và cho hồi hương công nhân VN, nhưng đa số các công nhân trốn ở lại. Thảm cảnh của các công nhân bắt đầu từ đó với cách đối xử bất công của dân chúng và chánh quyền địa phương. Thất nghiệp, nghèo đói đã đưa đến phạm pháp tạo thêm ác cảm cho người bản xứ đối với các dân lao động xuất khẩu . Theo thông cáo của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội ngày 29/01/2010 thì « chỉ riêng từ năm 2003 đến 2009, bình quân mỗi năm VN đưa được 77 000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Số ngoại tệ mà người VN qua con đường xuất khẩu lao động gửi về nước hàng năm là 1,6 tỷ USD... Hiện nay có khoảng 500 000 lao động và chuyên gia đang làm việc tại 40 quốc gia trên thế giới...» (Bộ LĐXHTB . Hợp tác lao động với nước ngoài).
- Nga
Năm 2005, có độ 100 000 người Việt trong đó có 80% sống bằng nghề buôn bán ở các chợ trời. Chợ Vòm (Cherkizovsky) là chợ Việt Nam lớn nhất ở Moscou với 6000 thương buôn người Việt đã bị chánh phủ Nga đóng cửa hồi tháng 6/2009 với lý do là nơi tập trung hàng lậu thuế nhập cảng từ Trung Quốc trị giá đến 6 tỷ mỹ kim. Sau đó, để hạn chế việc nhập cư của người di dân, chủ yếu là người Việt, kể từ năm 2010, luật Liên Bang Nga chỉ cho phép người nhập cư làm những nghề mà không có sự cạnh tranh với người địa phương. Nhiều người lao động VN khốn đốn không biết ở lại hay phải về nước, đàng nào cũng khổ. (Người Lao Động online 18/1/2010)
- Tiệp khắc
Năm 2005, Cộng đồng người Việt ở Tiệp Khắc độ 60 000 người, có trình độ hội nhập khác nhau. Số người Việt đã sống ở Tiệp khá lâu nên ổn định, nếu là sinh viên đi du học hoặc đi học nghể trước khi chế độ CS sụp đổ rồi xin ở lại thì mức độ hội nhập tương đối tốt vì biết ngôn ngữ.Lớp người mới đến có hai dạng. Giai đoạn từ những năm 1990 cho đến 2005 đa số được gia đình bảo lãnh sang đoàn tụ hoặc đi sang với giấy phép kinh doanh. Họ buôn bán nhỏ, hoặc mở các của hàng ăn, làm dịch vụ các loại.
Từ năm 2006 đến nay có thêm những đợt lao động xuất khẩu và ở lại bất hợp pháp sau khi mãn hợp đồng. Lớp người nầy không thông thạo tiếng Tiệp, không hội nhập với xã hội Tiệp, sống ghetto nghèo khổ, sinh ra phạm pháp. Năm 2007, cảnh sát Tiệp Khắc khám phá ra 79 vụ trồng cần sa thì có 70 vụ liên hệ đến người Việt. Theo cuộc thăm dò dư luận hồi tháng tư năm 2007 của hảng Stem ở Prague thì 60% người Tiệp không muốn có người Việt là người hàng xóm.
- Ba Lan
Không ai biết được con số chính xác, nhưng có ít nhất 30 000 người. Trong 10 năm qua, chỉ có 800 đơn xin tỵ nạn nhưng tất cả đều bị từ chối, đa số người Việt sống ở Ba Lan là những người lao động hết hạn ở lại di trú bất hợp pháp và người nhập cảnh lậu. Người VN di cư đến Ba Lan phần lớn qua ngã Moscou được các nhóm mafia hay các công ty tuyển dụng người ở Saigon tổ chức, dùng võ lực và lường gạt những người thất nghiệp phải bán ruộng đất, cầm cố nhà cửa hay vay nợ các nhóm tổ chức thường từ 10 ngàn đến 15 ngàn mỹ kim để được đưa đến Ba Lan, một số nợ quá lớn phải trả suốt đời. Đám doanh thương VN giàu có đem rất nhiều tiền để mua hãng xưởng và đầu tư tại Ba Lan và bóc lột đồng hương. Bọn họ có đường dây rất chặt chẽ với chính quyền Hà Nội và với sứ quán VN tại Warsaw. Dariusz Loranty, cảnh sát trưởng ở Warsaw đã nói với Ulricht Adrian, ký giả của đài truyền hình Đức ARD như sau : Dân VN không bao giờ chết, chưa hề thấy đám tang người Việt. Một ngày kia, chúng tôi thấy một xác người Việt bị mafia thủ tiêu quăng trong ven rừng ở Warsaw. Một người Việt nào đó mới đến bất hợp pháp sẽ mang tên người chết mà không ai kiểm soát được. Với chúng tôi, người Việt Nam nào cũng giống nhau không phân biệt được...Bọn mafia còn giết người đồng hương thiếu nợ đem các bộ phận đem bán...(nguồn: Ulricht Adrian. Wo Warschau vietnamesisch ist – DVConline dịch)-
- Ukraine
Khoảng 20 000 người , là cộng đồng người Việt có tổ chức, hội nhập nhiều nhất vào xã hội người bản xứ trong số các quốc gia ở Đông Âu. Chánh phủ và dân chúng cũng ưu ái với người Việt mà phân nửa là người dân lao động xuất khẩu.
- Đông Đức và nước Đức ngày nay
Khi bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 9/11/1989, tại Đông Đức có 59 000 nhân công lao động và du học sinh tập trung tại các thành phố Karl-Marx-Stadt, Dresden, Đông Berlin và Leipzig.
Sau khi nước Đức thống nhất, chính phủ Đức tìm cách giảm bớt số người lao độngViệt Nam ở Đông Đức bằng cách cấp cho mỗi người 3.000 mark để hồi hương. Khoảng phân nửa số người nầy đã đồng ý về Việt Nam, nhưng những người Việt làm lao động hợp đồng ở những nước Đông Âu khác lại kéo sang Đức xin tị nạn.Trong suốt thập niên 1990, chính phủ Đức tìm nhiều biện pháp đưa những người nhập cư này về VN nhưng không hiệu quả, bởi một đàng chính phủ Đức không muốn cưỡng bức những người này hồi hương và Việt Nam lại không muốn tiếp nhận họ. Năm 2004, có khoảng 40 000 người xin tỵ nạn chính trị và tuy bị từ chối, họ vẫn sống ngoài vòng pháp luật, lập băng đảng, buôn bán thuốc lá lậu là một trọng tội đối với Đức. Không nói được tiếng Đức, không hội nhập, đa số sống phạm pháp, nhóm người Việt ở Đông Đức lại có quan điểm chính trị thân Cộng Sản, do đó nhóm người nầy vẫn phân cách với những người tỵ nạn chống Cộng Sản ở Tây Đức.
Theo tài liệu thống kê tội phạm của cảnh sát Đức, vào năm 2007, có 8181 nghi phạm người Việt, chiếm tới chừng 9% số người Việt sống ở Đức. Tỷ lệ trên cao đặc biệt tại một số địa phương ở vùng Đông Đức cũ. Năm 2002, tù nhân người Việt tại tỉnh bang Sachsen chiếm tỉ lệ 17,2% là nhóm lớn nhất trong số các phạm nhân không mang quốc tịch Đức, cũng như vậy ở Sachsen-Anhalt 13,1% và Thüringen gồm 11,4%. Tại trại giam Berlin, họ là nhóm đứng thứ 2 với 9,4% sau số lượng phạm nhân Thổ, tại Brandenburg cũng xếp thứ 2 với 15,9% sau số lượng tù nhân Ba Lan. Không có một tỉnh bang nào tại Tây Đức lại có tỉ lệ phạm nhân người Việt như vậy. (Nguyễn Sỹ Phương. Lịch sử Cộng Đồng người Việt tại Đức. vietinfo.eu ngày 25/2/2010)
Người Việt tại Tây Đức là người tỵ nạn Cộng Sản, có trình độ văn hóa cao, hội nhập vào xã hội Đức. Theo thống kê của Liên Bang Đức, năm 2005 có 83 000 người Việt không kể 41500 người đã nhập quốc tịch Đức từ 1981 đến 2005. Như vậy, số người Việt tại Đức khoảng 165 000 người gồm 125 000 người tỵ nạn và 40 000 người xuất khẩu lao động và nhập cư bất hợp pháp. (nguồn : Wolf Bernd. The Vietnamese diaspora in Germany. Berlin : GTZ, Migration and Development, 2007)
2.2.2. Người Việt tại các quốc gia Á Châu
Di dân VN đến các quốc gia Á Châu, ngoài bản chất kinh tế còn có bản chất đặc thù liên quan đến buôn bán phụ nữ tại một số quốc gia như Đài Loan, Đại Hàn, hay liên quan đến chủng tộc như Cao Miên, Lào.
- Đài Loan
Đài Loan là quốc gia có dân di cư người Việt nhiều nhất ở Á Châu, có độ 200 000 người trong số có khoảng 100 000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan, tính từ năm bắt đầu có phong trào nầy từ năm 1990 đến 2005 (theo Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã hội VN), số còn lại là những người xuất khẩu lao động làm việc trong các hãng xưởng, phụ nữ giúp việc nhà (ôsin) và săn sóc người già trong các viện dưỡng lão. Đài Loan là quốc gia bị các cơ quan nhân quyền quốc tế chỉ trích nhiều lần về chánh sách bốc lột nhân công di cư, buôn bán phụ nữ và nô lệ tình dục đối với các nữ công nhân.
- Đại Hàn
Đại Hàn là quốc gia thứ hai bắt đầu phong trào kết hôn với phụ nữ Việt Nam từ năm 2000, gia tăng nhanh chóng mỗi năm. Chỉ riêng năm 2000 đã có 5000 cô dâu Việt và số người Việt năm nầy tại Hàn Quốc độ 10 000 người (Trần Trọng Đăng Đàn.Người VN ở nước ngoài).
Chuyện phụ nữ VN lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn đã là một vấn đề nghiêm trọng đối với VN. Chánh phủ, một đàng bất lực trong việc kiểm soát hay thỏa hiệp với các công ty môi giới và nhu nhược với các quốc gia liên hệ bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ VN, đàng khác lại báo động là với mức độ gia tăng phụ nữ Việt lấy chồng ngoại quốc sẽ tạo nên mất cân bằng giới tính trai thừa gái thiếu « thì năm 2030 sẽ có khoảng 3 triệu đàn ông VN tới tuổi lập gia đình sẽ khó kiếm vợ nhất là với dịch phụ nữ VN lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn » (RFA ngày 27/11/2008). Chuyện vô trách nhiệm của nhà nước VN đã khiến dân gian VN trêu cợt :
Tìm em như thể tìm chim,
Chim bay biển Bắc anh tìm biển Đông
Tìm chi cho phải mất công,
Đài Loan, Hàn Quốc em dông mất rồi.
- Nhật Bản
Năm 2009, cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản có 30.000 người, trong đó có khoảng 13.000 người Việt sinh sống tại Nhật Bản, 17.000 lao động mà Nhật Bản gọi là tu nghiệp sinh với khế ước 4 năm. Kinh tế Nhật gặp thời suy thoái nên các lao động xuất khẩu không có việc, phải sống bằng trợ cấp xã hội tương đương với 120 mỹ kim mỗi tháng. Đời sống Nhật đắt đỏ, số tiền trợ cấp không đủ sống, mà trở về nước thì không có tiền trả nợ cho công ty tuyển dụng, đâu đâu lao động xuất khẩu cũng gặp khó khăn, ngay tại một quốc gia kỹ nghệ như Nhật.
-Lào
Có độ 20 000 người, một phần là người Việt sinh cơ lập nghiệp tại đây từ thời Pháp thuộc đã hội nhập vào xã hội Lào, một phần là dân di cư từ các tỉnh miền Trung sang làm ăn từ sau 1975. Trong các quốc gia Á Châu, người Việt tại Lào được nhiều dễ dàng nhất bởi bản chất ưu ái của người Lào và tính năng động của người Việt.
- Thái Lan
Không có số thống kê rõ rệt, theo thống kê chính thức của Thái Lan năm 1997 có 43 690 người Việt trong đó có 26 493 người đã được cấp giấy định cư hay nhập tịch Thái (theo RFA ngày 10/2/2010) tập trung ở các tỉnh vùng Đông Bắc, đông nhất là Udon Thani, Nong Khai và Sakhon Nakhon và Bangkok. Tuy sau đó, một số được Phủ Cao Ủy Tị nạn cho đi định cư tại các quốc gia đệ tam, nhưng lại có một số người Việt vùng Thanh Nghệ Tĩnh và biên giới Miên nhập cảnh lậu nên số người Việt ở Thái Lan hiện nay khoảng 50 000 người.
- Cambốt
Không có thống kê chính thức vì quốc gia nầy chẳng có thống kê chính xác (các nhà nghiên cứu đưa con số từ 6,5 triệu đến 13 triệu)và vì chánh sách thù nghịch của Cambốt với người Việt nên người Việt thường giấu tông tích. Đặc biệt dưới thời Lon Nol và Pol Pot, người Việt bị sát hại dù đã sinh sống tại xứ nầy từ nhiều thế hệ. Con số ước lượng của các nhà khoa bảng người Miên cho là người VN chiếm 5% dân số của Cambot tức khoảng 350 000 đến 650 000 người, là con số thổi phồng cốt để tạo cho dân Miên thấy sự đe dọa của người Việt. Nhưng trong thực tế, những người Việt cộng cư trên đất Miên nhiều thế hệ đã trở thành người Miên từ ngôn ngữ đến tập tục, và một số người Việt đã trở về VN sau các cuộc khủng bố «cáp duồn» (giết người Việt) dưới thời Lon Nol, Pol Pot cho nên số người Việt còn ở lại trên đất Miên trước 1975 khoảng 100 000 người. Thống kê của VN công bố khoảng 100 000 người di dân kinh tế sau 1980, như vậy số người Việt trên đất Miên khỏang 200 000 người.
Trừ một thiểu số đã hội nhập vào xã hội Miên, 95% người Việt, dù đã sống lâu năm hay mới đến đều đói khổ, trẻ con thất học, thường xuyên lo sợ sự trả thù của chánh phủ và người dân Cambôt. Họ sống tập trung ở Phnom Penh và vùng Biển Hồ bằng nghề nông, chài lưới, lao động mọi ngành nghề.
Trong số các người Việt ở nước ngoài, tình trạng người Việt ở Cambốt là bi đát nhất.
Bảng 5: Người Việt di cư kinh tế ra nước ngoài
Đông Âu | Số người | Á Châu | Số người |
Nga | 100 000 | Đài Loan | 200 000 |
Tiệp Khắc | 60 000 | Đại Hàn | 10 000 |
Ba Lan | 30 000 | Nhật | 30 000 |
Ukraina | 20 000 | Lào | 20 000 |
Đông Đức | 40 000 | Thái Lan | 50 000 |
Hung gia lợi | 3 000 | Cambot | 200 000 |
Slovakia | 2 000 | Mã Lai | 25 000 |
Bulgarie | 2 000 | Ma Cao | 5 000 |
Các xứ khác | 3 000 | ||
Tổng cộng | 260 000 | 540 000 |
Theo chánh phủ CS thì hiện nay có khoảng 100 quốc gia có người Việt xuất khẩu lao động. Thông báo của Bộ Lao Động ngày 31/08/2009 công bố là «trong tháng 8/2009 cả nước đã đưa được 5 937 người (trong đó có 1748 nữ) đi làm việc ở nước ngoài, nâng tổng số lao động đi XKLĐ 8 tháng đầu năm 2009 là 45 934 người. Thị trường tiếp nhận lao động nhiều nhất là Đài Loan 13202 người (4782 nữ), tiếp đó là Hàn Quốc: 5549 người (785 nữ), Nhật Bản : 3793 (999 nữ), Vương quốc Á Rập : 3051 người, Libye : 2660 người, Ma Cao : 2349 (2144 nữ), Malaysia : 1666 (1015 nữ),Nga : 1484 người, và các thị trường khác là 11 880 người.
Chánh sách xuất khẩu lao động của chánh phủ CS đã phơi bày các bản chất căn bản của chế độ là tham nhũng và vô trách nhiệm. Những công ty môi giới tuyển dụng và xuất khẩu lao động là những công ty quốc doanh hay phe nhóm của cấp lãnh đạo đã lợi dụng sự nghèo đói của người dân mong muốn đi lao động nước ngoài để cải thiện đời sống, nhưng đã bị tập đoàn nầy đòi hỏi những chi phí quá cao (theo chỉ trích của Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc UNDP) thường từ 15 000 đến 20 000 mỹ kim và vô trách nhiệm khi công ty tuyển dụng hủy bỏ giao kèo trước thời hạn hay áp bức nhân công. Hiện tượng đem con bỏ chợ nầy đã gia tăng khối người Việt sống bất hợp pháp ở Đông Âu và khối phụ nữ bị mua bán trong các cuộc hôn nhân tại các nước Đông Nam Á.
Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội (VN) hợp tác với trường Đại học Western Ontario (Canada) đã thực hiện một cuộc khảo sát về chánh sách xuất khẩu lao động tại 4 quốc gia ở châu Á (Nhật, Đài Loan, Đại Hàn và Mã Lai) trong giai đoạn 2000-2009 đã công bố kết quả ngày 15 tháng 3 năm 2010 như sau : « chỉ có 33% người XKLĐ trả hết nợ trước khi trở về nước, 36% người bị tổn thương sức khỏe và tâm lý vì điều kiện và môi trường làm việc, 26% người không được trả lương như mong đợi, và 7% bị hành hạ về mặt thể chất».
Nhiều người bị hủy giao kèo hay không chịu nổi sự bốc lột phải trở về nước phải gánh thêm nợ nần. Trung bình, muốn trả hết nợ phải làm việc 18 tháng.( baomoi.com ngày 15/5/2010).
Người XKLĐ như vậy là nạn nhân của chế độ nhưng cũng là cánh tay nối dài của chế độ, tập họp thành những cộng đồng mang các bản sắc của chế độ. Người lãnh đạo các cộng đồng nầy là các cựu cán bộ hay du học sinh đã được CS gởi đi học, thấm nhuần tư tưởng Cộng Sản. Người XCLĐ là những người nghèo khổ đa số đi từ miền Bắc, đã bị nhồi nhét tư tưởng và đã quen phong cách của xã hội CS, và tại nước ngoài họ phải dùng đủ mưu chước để sinh tồn. Gần đây, một số lưu dân nầy lại xâm nhập vào các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ dưới dạng du khách rồi ở lại bất hợp pháp, tổ chức băng đảng và tham gia các hoạt động phi pháp, đặc biệt là trồng và buôn bán cần sa. Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ Anh Quốc, ông David Hanson đã tuyên bố với báo chí hồi cuối năm là « có gần 600 người VN bị giam giữ tại Anh liên quan đến trồng cần sa và bán cần sa và số tội phạm nầy sẽ chuyển giao về cho VN» (RFA ngày 11/12/2009). Nhóm xuất khẩu lao động nầy đã làm giảm uy tín của các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên thế giới vốn được các chính quyền và người dân bản xứ nể trọng.
Ngoài ra, khi nói đến người Việt trong nước có mặt gần đây tại các quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ phải kể thêm số du học sinh mà đa số là con cháu của các đảng viên cao cấp Cộng Sản và các tư bản đỏ (trong nước gọi đám trẻ nầy là 4C=con cháu các cụ).
«Theo thống kê mới nhất của Bộ Giáo Dục-Đào Tạo hiện có 60 000 du học sinh đang theo học tại nước ngoài trong đó có khoảng 4000 người đi học bằng ngân sách nhà nước, vài ngàn người nhờ các học bổng, số còn lại đi bằng con đường tự túc. Số du học sinh tại Úc đông nhất 21 000 người, kế đó là Hoa Kỳ với 12 823 người, theo báo cáo của Viện Giáo Dục Quốc Tế Institute of International Education…» ( olympia.duytan.edu.vn ngày 14/4/2010)
Ngoài ra, Campus-France, trong ấn bản tháng 12 năm 2009 cho biết 10 quốc gia tiếp nhận du học sinh VN từ 2003 đến nay theo thứ tự như sau :
Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Nhật, Đức, Anh, Bắc Hàn, Ukraine, Tiệp Khắc, Tân Tây Lan . Tổng cộng số sinh viên VN tại 10 quốc gia nầy :
2003 : 12 000 ; 2007 : 24 000
(nguồn : Les étudiants internationaux: chiffres clés 2009. – Paris, Campus-France, déc. 2009, p.13).
Một tài liệu khác còn xác định trong số 12 823 du học sinh tại Mỹ tập trung hơn phân nửa tại ba tiểu bang Texas, Washington và California và đa số chọn học ở đại học cộng đồng.
(nguồn : Vietnamese market for educational and training /US Commercial Service-VietNam, March 2010)
Trừ một số rất nhỏ du học sinh chuyên cần học tập và khi tốt nghiệp, đa số họ tìm cách ở lại để sinh cơ lập nghiệp, số còn lại cũng là một thứ xuất khẩu, nhưng thay vì xuất khẩu những người nghèo khổ đi tìm việc làm ở Đông Âu và Đông Nam Á thì chính phủ CS xuất khẩu những người cực kỳ giàu có để có cơ hội chuyển tiền hợp pháp và mua bằng cấp ở nước ngoài. Với các chứng chỉ ghi tên nhập học tại các đại học nổi tiếng hay các chứng chỉ (chứ không phải bằng cấp) của các đại học tư, số du học sinh nầy trở về nước với một kiến thức tạp nhạp thu nhận trong thời gian vài năm ăn chơi hơn là thực sự học tập, họ sẽ nối nghiệp ông cha để tiếp tục vơ vét và cai trị một đất nước nghèo khổ, thiếu tự do, thì trong viễn tượng ấy, nước Việt Nam ngày mai chẳng có dấu hiệu nào lạc quan. Nhóm du học sinh nầy cũng là một công cụ của các tòa đại sứ, lãnh sự Cộng Sản để xâm nhập, lũng loạn hàng ngũ sinh viên con cháu người tỵ nạn VN, vốn cởi mở về quan điểm chính trị, để tuyên truyền chủ thuyết Cộng Sản. Phải hiểu rằng trong số 4000 du sinh đi học bằng ngân sách nhà nước có những cán bộ, công an lão luyện trong công tác tuyên truyền khủng bố, do đó có hiện tượng nhiều hiệp hội sinh viên mọc lên tại các campus đại học gần đây đều mang cờ đỏ .